Tình ca du mục

25.8.08

Phiên bản gốc tiếng Nga của Boris Fomin, được dịch ra tiếng Anh là Endless Road (Con đường bất tận) hay By the Long Road (Cạnh con đường dài).

Дорогой длинною

04 - Track.MP3



Boris Fomin

Ехали на тройке с бубенцами,
А вдали мелькали огоньки.
Мне б мне, соколики, за Вами,
Душу бы развеять от тоски.

Дорогой длинною, да ночью лунною,
Да с песней той, что вдаль летит звеня,
И с той старинною с той семиструнною,
Что по ночам так мучала меня...

Так живя без радости, без муки,
Помню я ушедшие года,
И твои серебряные руки
В тройке, улетевшей навсегда...

Да, выходит, пели мы за даром
Понапрасну ночь за ночью жгли
Если б мы покончили со старым
Так и ночи эти отошли

Дни бегут, печали умножая,
Мне так трудно прошлое забыть.
Как-нибудь однажды, дорогая,
Вы меня свезете хоронить.

В даль родную новыми путями
Нам отныне ехать суждено
Ехали на тройке с бубенцами
Да теперь проехали давно

Tiếng Anh theo ở đây:

Endless Road


(We) Used to ride in a three-horse carriage with bells (tinkling)
And lights were blinking in the distance
I wish I could go with you (again), falcons
To clear my soul off all my grief

Refrain:
(Going down) that long road on a moonlight night with that
song that is flying away, ringing
And with that old seven-string one (guitar)
That troubled me so much at nights

Living such life without joy and torture,
I recollect the years that passed by
And your silver hands
in that three-horse carriage which went away for good...

Refrain: (same as above)

Days are passing by, multiplying my sorrows,
It's so hard for me to forget the past
And one day the day will come, my dear,
When you are going to bury me...

Out into our native land, and by new paths,
We have been fated to go now!
...You rode on a troika with sleigh bells,
[But] you've long since passed by!

(khổ cuối theo ở đây)


Thử dịch ra tiếng Việt theo bản tiếng Anh này và bản ở đây.

Con đường vô tận


Anh cưỡi xe tam mã với những quả chuông
Những tia sáng lấp lánh trên đường
Nếu như giờ đây em có thể đi theo anh
Em sẽ giã biệt nỗi đau đớn trong hồn

Trên con đường vô tận, dưới ánh trăng ngà
Với bài hát này bay xa, vang vọng
Cùng cây đàn thất huyền cổ xưa
Vẫn khiến em đau đớn hàng đêm

Nhưng bài hát của chúng ta vô nghĩa
Chúng ta đốt cháy những đêm trong vô vọng
Nếu chúng ta vĩnh biệt những ngày xưa cũ
Những đêm này hẳn cũng sẽ lìa xa!

Sống không hạnh phúc cũng chẳng quá khổ đau
Em nhớ mãi những ngày đã mất
Với bàn tay anh lấp lánh
Trên chiếc xe tam mã, bay đến vô tận

Tháng năm trôi qua, chồng thêm những nỗi buồn
Sao em có thể quên những ngày quá khứ
Có lẽ, anh yêu, tới một ngày nào đó
Khi anh sẽ chôn em...

Trên mảnh đất quê hương, trên những con đường
Định mệnh khiến chúng ta cất bước
Anh cưỡi xe tam mã với những quả chuông
Nhưng đã lâu rồi từ lúc anh đi qua em.


Bản tiếng Anh, lời do Gene Raskin đặt, thường được biết đến qua giọng hát của Mary Hopkin.



Those were the days

Words by Gene Raskin

Once upon a time there was a tavern,
Where we used to raise a glass or two.
Remember how we laughed away the hours,
think of all the great things we would do.

Those were the days my friend,
We thought they'd never end,
We'd sing and dance for-ever and a day,
We'd live the life we choose,
We'd fight and never lose,

For we were young and sure to have our way.
Lalala lah lala, lalala lah lala
Those were the days, oh yes, those were the days.

Then the busy years went rushing by us.
We lost our starry notions on the way.
If by chance I'd see you in the tavern,
We'd smile at one another and we'd say:

Those were the days my friend,
We thought they'd never end,
We'd sing and dance for-ever and a day,
We'd live the life we choose,
We'd fight and never lose,

Just tonight I stood before the tavern,
Nothing seemed the way it used to be.
In the glass I saw a strange reflection,
Was that lonely woman really me.

Through the door there came familiar laughter.
I saw your face and heard you call my name.
Oh, my friend, we're older but no wiser,
For in our hearts the dreams are still the same.



Dịch ra tiếng Việt

Đó là những ngày xưa

Có một thời, có một quán rượu
Nơi chúng ta vẫn nâng cốc bên nhau
Có nhớ chăng những trận cười bất tận
Có nhớ chăng những mơ ước lớn lao.

Đó là những ngày xưa cũ, bạn tôi ơi.
Chúng ta từng nghĩ không bao giờ kết thúc
Chúng ta hát và nhảy- mỗi ngày và mãi mãi
Chúng ta sống cuộc đời mình chọn
Chúng ta chiến đấu và không bao giờ thất bại,
Bởi chúng ta trẻ trung và sẽ luôn có đường đi
Đó là những ngày xưa, những ngày xưa

Rồi tháng năm bận rộn lướt qua ta
Chúng ta đánh mất những niềm mong ước.
Nếu tình cờ, gặp lại anh trong quán,
Chúng ta sẽ mỉm cười và chúng ta sẽ nói:

Có một thời, có một quán rượu
Nơi chúng ta vẫn nâng cốc bên nhau
Có nhớ chăng những trận cười bất tận
Có nhớ chăng những mơ ước lớn lao.

Đêm nay em đứng trước quán rượu quen
Chẳng còn gì như những ngày xưa cũ
Trong cửa kính, em thấy cảnh lạ lùng
Người đàn bà cô đơn đấy thực phải em?

Bên trong cửa có tiếng cười thân quen
Em nhìn thấy anh, nghe anh gọi tên em.
Chúng ta đã già đi, nhưng chẳng khôn hơn
Bởi trong tim mình, những giấc mơ còn mãi


Lời tiếng Pháp



Le Temps Des Fleurs.

1. Dans une taverne du vieux Londres
Où se retrouvaient des étrangers
Nos voix criblées de joie montaient de l'ombre
Et nous écoutions nos cœurs chanter

C'était le temps des fleurs
On ignorait la peur
Les lendemains avaient un goût de miel
Ton bras prenait mon bras
Ta voix suivait ma voix
On était jeunes et l'on croyait au ciel
La, la, la...
{On était jeunes et l'on croyait au ciel}

2 . Et puis sont venus les jours de brume
Avec des bruits étranges et des pleurs
Combien j'ai passé de nuits sans lune
A chercher la taverne dans mon cœur

Tout comme au temps des fleurs
Où l'on vivait sans peur
Où chaque jour avait un goût de miel
Ton bras prenait mon bras
Ta voix suivait ma voix
On était jeunes et l'on croyait au ciel
La, la, la ......

{On était jeunes et l'on croyait au ciel}

3. Je m'imaginais chassant la brume
Je croyais pouvoir remonter le temps
Et je m'inventais des clairs de lune
Où tous deux nous chantions comme avant

4. Et ce soir je suis devant la porte
De la taverne où tu ne viendras plus
Et la chanson que la nuit m'apporte
Mon cœur déjà ne la reconnaît plus


Lời Việt, không rõ tác giả




Tình ca du mục

Thảo nguyên bát ngát mênh mông tận chân trời
Cỏ cây hoa lá hương thơm tỏa ngát đồng
Tìm em năm tháng thấy đâu hình bóng người
Em thân yêu ơi, biết em giờ này nơi đâu

Nhắn giúp cho ta chim ơi
Nhắn giúp cho ta mây ơi
Thảo nguyên bát ngát đem giấu em ta nơi nao
Lần theo dấu vết em đi
Tìm đâu cho thấy em yêu
Tình yêu bốc cháy, trong tim phút giây nào nguôi

Tháng tháng năm năm trôi qua
Bão tuyết mưa rơi sương sa
Tình anh vẫn xanh như lá cây trong mùa xuân

La la la la...

(Lời 2)

Dù cho năm tháng phôi phai hình bóng nàng
Dù thời gian có xóa tan bao ước vọng
Hàng mi đen láy như nhung vì nắng chiều
Trên vai em tôi, vẫn buông dài đôi bím tóc ...

Nhắn giúp cho ta chim ơi
Nhắn giúp cho ta mây ơi
Thảo nguyên bát ngát đem giấu em ta nơi nao
Lần theo dấu vết em đi
Tìm đâu cho thấy em yêu
Tình yêu bốc cháy, trong tim phút giây nào nguôi

Ở nơi đây, chuyến du hành của những con chim kết thúc

20.8.08



(Ảnh: Vnexpress).

Mahmoud Darwish (1941-2008) nhà thơ nổi tiếng Palestine, được coi là nhà thơ quốc gia của Palestine.

Ở nơi đây, chuyến du hành của những con chim kết thúc


Ở nơi đây, chuyến du hành của những con chim kết thúc, chuyến du hành của chúng ta,
chuyến du hành của từ ngữ, và sau chúng ta sẽ là chân trời cho những con chim mới.
Chúng ta là những kẻ gột ra đồng cho bầu trời, bầu trời sẽ tạc những con đường sau lưng chúng ta
và đền bù bằng tên của chúng ta trên những triền mây xa tít.
Rồi chẳng mấy chốc, chúng ta bước lên trên con đường dốc của người góa phụ trên những cánh đồng ký ức
và dựng túp lều của mình trước những cơn gió cuối cùng:
những cơn gió thổi, để câu thơ còn sống, và thổi trên đường đi của câu thơ.
Sau chúng ta, cỏ cây sẽ mọc, chúng chỉ mọc trên những con đường
chúng ta đã bước đi, nơi những bàn chân bướng bỉnh của chúng ta cất bước.
Và chúng ta sẽ khắc trên những viên đá cuối cùng, “muôn năm cuộc sống, muôn năm cuộc sống,”
rồi ngã vào chính mình.
Và sau chúng ta sẽ là chân trời cho những con chim mới


Here the birds’ journey ends,

Here the birds’ journey ends, our journey, the journey of words,
and after us there will be a horizon for the new birds.
We are the ones who forge the sky’s copper, the sky that will carve roads
after us and make amends with our names above the distant cloud slopes.
Soon we will descend the widow’s descent in the memory fields
and raise our tent to the final winds: blow, for the poem to live, and blow
on the poem’s road. After us, the plants will grow and grow
over roads only we have walked and our obstinate steps inaugurated.
And we will etch on the final rocks, “Long live life, long live life,”
and fall into ourselves. And after us there’ll be a horizon for the new birds.

Tôi đến từ nơi đấy


Tôi đến từ nơi đấy. Tôi có những ký ức.
Tôi sinh ra như những người khác được sinh ra.
Tôi có một người mẹ
Một ngôi nhà nhiều cửa sổ,
Tôi có anh em, bè bạn,
Và một buồng giam với cửa sổ lạnh!
Tôi có con sóng nơi chim mòng biển vồ vập,
Tôi có cái nhìn của tôi
Và có dư thừa một ngọn cỏ.
Ở nơi ẩn náu sâu nhất của ngôn từ,
Tôi có mặt trăng,
Rất nhiều chim,
Và cây ô-liu vĩnh cửu.
Tôi đã bước đi trên miền đất ấy
Trước khi lưỡi kiếm biến thân người thành tấm mộc nặng trĩu
Tôi đến từ nơi đấy.
Khi bầu trời than khóc mẹ nàng,
Tôi trao lại bầu trời cho người mẹ.
Và tôi khóc, để đám mây khi quay lại sẽ mang theo những giọt nước mắt tôi.
Để phá bỏ mọi luật lệ,
tôi từng học tất cả những ngôn từ cần cho phiên tòa máu.
Tôi học chúng và dỡ bỏ tất cả
Chỉ để nói một từ duy nhất: Quê hương.



I Come From There

I come from there and I have memories
Born as mortals are, I have a mother
And a house with many windows,
I have brothers, friends,
And a prison cell with a cold window.
Mine is the wave, snatched by sea-gulls,
I have my own view,
And an extra blade of grass.
Mine is the moon at the far edge of the words,
And the bounty of birds,
And the immortal olive tree.
I walked this land before the swords
Turned its living body into a laden table.
I come from there. I render the sky unto her mother
When the sky weeps for her mother.
And I weep to make myself known
To a returning cloud.
I learnt all the words worthy of the court of blood
So that I could break the rule.
I learnt all the words and broke them up
To make a single word: Homeland

Phần còn lại cuộc đời


Nếu người ta nói với tôi:
Đến tối anh sẽ chết,
Anh sẽ làm gì cho tới đấy?
Tôi sẽ nhìn đồng hồ đeo tay,
Tôi sẽ uống nước hoa quả,
Cắn một quả táo,
Ngắm nghía con kiến mới tìm thấy mồi,
Rồi lại nhìn đồng hồ của tôi.
Vẫn còn thời gian để cạo râu
Và dầm mình trong phòng tắm, ngẫm nghĩ:
“Phải mặc gì khi viết,
Thôi hãy mặc áo xanh.”
Tôi sẽ ngồi tới trưa bên bàn làm việc
Vẫn sống
Nhưng không thể nhìn ra màu sắc của từ ngữ,
Trắng, trắng, trắng…

Tôi sẽ chuẩn bị bữa trưa cuối,
Rót rượu vào hai ly: một cho tôi
Và một cho người sẽ đến không hẹn ước,
Và sẽ đánh một giấc ngủ ở giữa hai giấc mơ.
Nhưng tiếng tôi ngáy sẽ đánh thức tôi…
Và tôi lại nhìn đồng hồ:
Vẫn còn ít thời gian để đọc.
Tôi sẽ đọc một chương của Dante và nửa bài mu’allaquah
Và nhìn xem cuộc sống đang rời khỏi tôi
Để đển với người khác
Nhưng tôi sẽ không hỏi
Ai sẽ là người điền vào khoảng thiếu.
Vậy đấy, và sau đấy?
Vậy đấy, vậy đấy,
Sau đấy thì sao?
Tôi sẽ chải tóc và vứt bỏ bài thơ…
Bài thơ này, vứt vào sọt rác,
Và mặc những chiếc áo Italia mốt nhất,
Hiên ngang bước đi trong tiếng đệm vĩ cầm Tây Ban Nha,
Và đi thẳng tới nấm mồ!


Remainder of a Life

If I were told:
By evening you will die,
so what will you do until then?
I would look at my wristwatch,
I’d drink a glass of juice,
bite an apple,
contemplate at length an ant that has found its food,
then look at my wristwatch.
There’d be time left to shave my beard
and dive in a bath, obsess:
“There must be an adornment for writing,
so let it be a blue garment.”
I’d sit until noon alive at my desk
but wouldn’t see the trace of color in the words,
white, white, white . . .

I’d prepare my last lunch,
pour wine in two glasses: one for me
and one for the one who will come without appointment,
then I’d take a nap between two dreams.
But my snoring would wake me . . .
so I’d look at my wristwatch:
and there’d be time left for reading.
I’d read a chapter in Dante and half of a mu’allaqah
and see how my life goes from me
to the others, but I wouldn’t ask who
would fill what’s missing in it.
That’s it, then?
That’s it, that’s it.
Then what?
Then I’d comb my hair and throw away the poem . . .
this poem, in the trash,
and put on the latest fashion in Italian shirts,
parade myself in an entourage of Spanish violins,
and walk to the grave!

Nghĩ tới người khác


Khi bạn chuẩn bị bữa sáng, hãy nghĩ tới người khác.
[đừng quên cho bồ câu ăn]

Khi bạn tiến hành chiến tranh, hãy nghĩ tới người khác.
[đừng quên những người muốn hòa bình]

Khi bạn trả tiền nước, hãy nghĩ tới người khác.
[đừng quên những người chỉ uống từ mây]

Khi bạn về nhà mình, hãy nghĩ tới người khác.
[đừng quên những kẻ sống trong lều]

Khi bạn ngủ và đếm những hành tinh, hãy nghĩ tới người khác
[có những người không nơi để ngủ]

Khi bạn giải phóng bản thân bằng những ẩn dụ, hãy nghĩ tới người khác
[có những người đánh mất quyền được nói]

Và khi bạn nghĩ tới những người xa xôi khác, hãy nghĩ tới bản thân
[và nói “Tôi ước mình là ngọn nến trong bóng tối]


Think of Others

While making breakfast, think of others
[don't forget the pigeons' feed]

While fighting your wars, think of others
[don't forget those who want peace]

While paying your water bill, think of others
[those who are drinking the clouds]

While walking home, think of others
[don't forget the people of the tents]

While sleeping and counting planets, think of others
[there are those who don't have a place to sleep]

While liberating yourself with metaphors, think of others
[those who lost the right to speak]

While thinking of the distant others, think of yourself
[say: I wish I were a candle in the dark]

Sonnet 21

19.8.08

Elizabeth Barrett Browning
(1806-1861)


Sonnet 21


Anh hãy nói và nói thêm lần nữa
Rằng anh yêu em, anh yêu em.
Cho dù lời nói mỗi lần lặp lại thêm
Sẽ giống tiếng hót loài chim tu hú
Nhưng trên cánh đồng, thung lũng hay nơi rừng rú.
Mùa Xuân chỉ đến cùng tiếng hót của chim.
Anh yêu, em vẫn ở giữa bóng đêm
Đau đớn bởi hoài nghi, chờ đợi

Anh hãy nói, hãy nói rằng anh yêu
Có ai sợ sao trên trời có quá nhiều
Có ai sợ những bông hoa thừa thãi
Anh hãy nói yêu em, yêu em, yêu em
Hãy cứ ngân nga những lời lấp lánh
Nhưng Anh Yêu, em chỉ muốn xin
Linh hồn anh yêu em cả những khi im lặng



Sonnet 21

Say over again, and yet once over again,
That thou dost love me. Though the word repeated
Should seem "a cuckoo-song," as thou dost treat it,
Remember, never to the hill or plain,
Valley and wood, without her cuckoo-strain
Comes the fresh Spring in all her green completed,
Belovèd, I, amid the darkness greeted
By a doubtful spirit-voice, in that doubt's pain

Cry, Speak once more--thou lovest! Who can fear
Too many stars, though each in heaven shall roll,
Too many flowers, though each shall crown the year?
Say thou dost love me, love me, love me—toll
The silver iterance!--only minding, Dear,
To love me also in silence with thy soul.

Tôi không là ai! Còn bạn là ai?

Emily Elizabeth Dickinson (12/10/1830 – 15/5/1886) – nhà thơ Mỹ, cùng với Walt Whitman, Emily Dickinson là nhà thơ đặc sắc nhất của Mỹ thế kỉ XIX.


Tôi không là ai! Còn bạn là ai?

Tôi không là ai! Còn bạn là ai?
Bạn cũng không là ai, có phải vậy không?
Và chúng ta sẽ thành một đôi- nhưng chớ có nói
Bằng không ta sẽ bị người xua đuổi.

Trở thành ai đó thật là đáng sợ!

Ở giữa đám đông, như con ễnh ương
Nhắc tên mình suốt cả ngày đêm
Trước một vũng lầy ngưỡng mộ!



I'm nobody! Who are you?


I'm nobody! Who are you?
Are you nobody, too?
Then there's a pair of us--don't tell!
They'd banish us, you know.

How dreary to be somebody!

How public, like a frog
To tell your name the livelong day
To an admiring bog!

Đó là tất cả những gì em mang đến hôm nay


Đó là tất cả những gì em mang đến hôm nay--
Thứ này, và tim em cạnh đấy--
Thứ này, và tim em, và tất cả cánh đồng--
Và tất cả thảo nguyên mênh mông--
Nhưng anh nhớ đếm- phòng nhỡ em quên
Một ai đó mà những thứ này cho biết--
Thứ này, và tim em, và tất cả những chú Ong
Trú mình trên Bông Cỏ.


It's all I have to bring today –

It's all I have to bring today –
This, and my heart beside –
This, and my heart, and all the fields –
And all the meadows wide –
Be sure you count – should I forget
Someone the sum could tell –
This, and my heart, and all the Bees
Which in the Clover dwell.

Không ai biết tới đóa Hồng bé nhỏ


Không ai biết tới đóa Hồng bé nhỏ
Nó có thể là kẻ hành hương
Nếu như em không ngắt nó giữa đường
Và trao vào tay anh.

Chỉ có Ong mới nhớ tới đóa Hồng--

Chỉ một em Bướm trắng,
Vội vã trở về từ chuyến đi xa—
Nằm yên, đôi cánh xếp

Chỉ Chim mới tự hỏi—

Chỉ Gió mới thở dài—
Ôi, đóa Hồng bé nhỏ-
Sao em dễ xa đời!


Nobody knows this little Rose -

Nobody knows this little Rose -
It might a pilgrim be
Did I not take it from the ways
And lift it up to thee.

Only a Bee will miss it -

Only a Butterfly,
Hastening from far journey -
On its breast to lie -

Only a Bird will wonder -

Only a Breeze will sigh -
Ah Little Rose - how easy
For such as thee to die!

Tim ơi, mình sẽ cùng quên chàng


Tim ơi, mình sẽ cùng quên chàng
Em với chị, đêm nay quên lãng
Em hãy quên hơi ấm chàng trao
Còn chị quên đi ánh sáng.

Khi em đã quên, em hãy bảo chị nghe,
Để những ý nghĩ chị trở nên mờ mịt
Nhanh lên em! Nếu như em chậm nhịp
Có thể rằng chị sẽ vẫn nhớ ai.



Heart, we will forget him

Heart, we will forget him
You and I, tonight.
You may forget the warmth he gave,
I will forget the light.

When you have done, pray tell me,
That I my thoughts may dim;
Haste! lest while you're lagging,

I may remember him!

Với mùa thu

16.8.08



William Blake (28 tháng 11 năm 1757 – 12 tháng 8 năm 1827) – là nhà thơ, hoạ sĩ Anh, một trong những nhà thơ lớn của thế kỷ XVIII. Thơ ca của William Blake là một hiện tượng, chuyển từ thơ ca thế kỉ Ánh sáng sang thơ ca lãng mạn của Keats, Shelley. Năm 1957 Hội đồng Hòa bình Thế giới kỷ niệm 200 năm ngày sinh của ông. Năm 2002 đài BBC bầu chọn 100 người Anh vĩ đại nhất mọi thời đại, William Blake được bầu ở vị trí 38 (Wikipedia tiếng Việt).


Với mùa thu

Ơi Mùa Thu, nặng trĩu trái cành
Với máu đỏ trên những chùm nho ngọt
Hãy đến đây, ngồi dưới bóng mái nhà
Hãy nghỉ ngơi, và cất lời ca hát
Hòa chung nhịp với tiếng sáo tôi;
Ngắm những cô gái của tháng năm nhảy múa
Hát bài ca trĩu ngọt của trái hoa.

Nụ hoa nhỏ nở bừng trước mặt trời
Và tình yêu chảy tràn trong huyết mạch;
Làm hồng tươi cho bình minh đôi má đẹp
Cho tới khi Mùa Hạ cất tiếng ca
Những đám mây rắc hoa trên đầu Mùa Hạ

Những linh hồn sống bằng mùi hoa trái
Lắc đôi cánh nhẹ, vui vẻ lượn quanh vườn,
Hay ngồi xuống hát ca dưới lá
Và Mùa Thu cất lời ca hoan lạc
Rồi đứng dậy, quấn chặt dây lưng
Chạy thật xa vượt ngọn đồi u ám
Để lại sau lưng những lấp lánh gánh vàng


To autumn

O Autumn, laden with fruit and stained,
With the blood of the grape, pass not, but sit
Beneath my shady roof, there thou may’st rest,
And tune thy jolly voice to my fresh pipe;
And all the daughters of the year shall dance!
Sing now the lusty song of fruits and flowers.

The narrow bud opens her beauties to
The sun, and love runs in her thrilling veins;
Flourish down the bright cheek of modest eve,
Till clust’ring Summer breaks forth into singing,
And feather’d clouds strew flowers round her head.

The spirits of the air live on the smells
Of fruit; and joy, with pinions light, roves round
The gardens, or sits singing in the trees.
Thus sang the jolly Autumn as he sat;
Then rose, girded himself, and o’er the bleak
Hill fled from our sights, but left his golden load.


Image:Oberon, Titania and Puck with Fairies Dancing. William Blake. c.1786.jpg

Một bức tranh của Blake

Hoa hồng bệnh


Hoa hồng ơi, em ngã bệnh rồi
Con sâu vô hình nào đó
Bay trong đêm tối
Giữa cơn bão gầm gừ

Sâu tìm thấy giường em
Hân hoan đỏ thẫm
Và bằng tình yêu tối tăm thầm kín
Sâu hủy hoại đời em.


The Sick Rose

O Rose, thou art sick!
The invisible worm
That flies in the night,
In the howling storm,

Has found out thy bed
Of crimson joy,
And his dark secret love
Does thy life destroy.

Bài hát đưa nôi


Ngủ, ngủ ngoan, con yêu
Mơ giữa niềm hạnh phúc
Trong khi con ngủ yên
Nỗi buồn kia ngồi khóc

Trên mặt con, mẹ thấy
Những khát khao dịu nhẹ
Những niếm vui kín kẽ
Những nghịch ngợm trẻ thơ.

Khi mẹ chạm đôi chân
Bình minh cười hạnh phúc
Trên má và trên ngực
Nơi trái tim nghỉ ngơi

Trò nghịch nào lẻn tới
Trong trái tim ngủ ngoan!
Khi trái tim thức giấc
Đêm đáng sợ sẽ tàn!


Cradle Song

Sleep, sleep, beauty bright,
Dreaming in the joys of night;
Sleep, sleep; in thy sleep
Little sorrows sit and weep.

Sweet babe, in thy face
Soft desires I can trace,
Secret joys and secret smiles,
Little pretty infant wiles.

As thy softest limbs I feel,
Smiles as of the morning steal
O'er thy cheek, and o'er thy breast
Where thy little heart doth rest.

O the cunning wiles that creep
In thy little heart asleep!
When thy little heart doth wake,
Then the dreadful night shall break.

Bí mật tình yêu


Đừng bao giờ nói lời yêu
Tình yêu không thể nói
Bởi ngọn gió dịu dàng luôn thổi
Lặng lẽ, vô hình.

Tôi kể tình tôi, tôi kể tình tôi
Tôi kể nàng nghe bằng cả trái tim
Run rẩy, lạnh giá, trong xót xa hãi sợ
Và nàng lìa bỏ.

Khi nàng đã xa tôi
Một kẻ lãng du đi tới
Lặng lẽ, vô hình:
Hắn có được nàng bằng tiếng thở dài.

Love's secret

Never seek to tell thy love,
Love that never told can be;
For the gentle wind does move
Silently, invisibly.

I told my love, I told my love,
I told her all my heart;
Trembling, cold, in ghastly fears,
Ah! she did depart!

Soon as she was gone from me,
A traveler came by,
Silently, invisibly
He took her with a sigh.

Elaine

9.8.08

Image:JWW TheLadyOfShallot 1888.jpg


Anh hãy trở lại Astolat
Em không cần anh đối xử tốt
Anh cứ đi nếu anh muốn
Em sẽ ở lại sau anh.

Em sẽ không nói những lời trìu mến
Không mong anh ôm em tha thiết
Em không định làm phiền
Như những ngày năm trước.

Vườn nho vẫn như xưa, ơi Lancelot
Và hồ nước không khác ngày nào
Nhưng anh chẳng thể biết
Em giờ này ra sao

Đường trong vườn dài rộng
Ghế trong vườn trống không
Nếu anh nghĩ đến, hẳn anh sẽ biết
Bông hoa huệ xưa đã lìa cành.

Ở một nơi xa nào đấy
Em sẽ ngắm anh, ngắm mãi thật lâu
Sẽ nhìn anh nói, ngắm cách anh cất lời
Và mỉm cười khi anh cười khe khẽ

(Elaine, hay The Lady of Shalott, là nhân vật trong huyền thoại về Arthur, chết vì mối tình đơn phương với Lancelot-chàng hiệp sĩ yêu vợ vua Arthur)


Elaine
By Edna St. Vincent Millay

Oh, come again to Astolat!
I will not ask you to be kind.
And you may go when you will go,
And I will stay behind.

I will not say how dear you are,
Or ask you if you hold me dear,
Or trouble you with things for you
The way I did last year.

So still the orchard, Lancelot,
So very still the lake shall be,
You could not guess—though you should guess—
What is become of me.

So wide shall be the garden-walk,
The garden-seat so very wide,
You needs must think—if you should think—
The lily maid had died.

Save that, a little way away,
I’d watch you for a little while,
To see you speak, the way you speak,
And smile,—if you should smile.

Những mẩu thoại đu đưa

8.8.08




Đó là bức tranh tĩnh vật màu nước
Trong buổi chiều muộn
Khi mặt trời chiếu qua dải đăng ten
Và bóng tối gột rửa căn phòng
Chúng ta ngồi trên trường kỷ, uống cà phê
Trong sự ơ hờ
Như những con sò rớt lại trên bờ biển
Em có thể nghe tiếng biển gầm
Trong những mẩu thoại đu đưa
Và những tiếng thở dài hời hợt
Là biên giới cuộc đời chúng ta.

Em đọc thơ Emily Dickinson
Anh đọc Robert Frost
Chúng ta lưu chỗ của mình bằng những đánh dấu sách
Đo đếm những gì chúng ta đánh mất.
Như một bài thơ tồi
Chúng ta là những câu thơ lạc nhịp
Những cặp thơ lạc nhịp
Thời gian lạc điệu
Đánh mất mình trong những mẩu thoại đu đưa
Và những tiếng thở dài
hời hợt
Là biên giới cuộc đời chúng ta

Phải, chúng ta nói tới những điều quan trọng
Với những lời lẽ nhất thiết phải nói ra
Có đáng phân tích không?
Phải chăng nhà hát chết?
Căn phòng nhạt màu hơn
Anh chỉ hôn được bóng em
Anh không cảm thấy tay em
Em đã thành xa lạ
Ta đánh mất mình trong những mẩu thoại đu đưa
Và những tiếng thở dài
hời hợt
Là biên giới cuộc đời chúng ta


Dangling Conversation
Simon & Garfunkel

Its a still life water color
Of a now late afternoon,
As the sun shines through the curtained lace
And shadows wash the room.
And we sit and drink our coffee
Couched in our indifference,
Like shells upon the shore
You can hear the ocean roar
In the dangling conversation
And the superficial sighs,
Are the borders of our lives.

And you read your Emily Dickinson,
And I my Robert Frost,
And we note our place with bookmarkers

That measure what we've lost.
Like a poem poorly written
We are verses out of rhythm,
Couplets out of rhyme,

In syncopated time
Lost in the dangling conversation
And the superficial sighs,
Are the borders of our lives.

Yes, we speak of things that matter,
With words that must be said,
Can analysis be worthwhile?
Is the theater really dead?
And how the room is softly faded
And I only kiss your shadow,
I cannot feel your hand,
You're a stranger now unto me
Lost in the dangling conversation
And the superficial sighs,
In the borders of our lives.

Ngược dòng

31.7.08


Anh đã quen sắc đẹp em
như em quen trái tim anh
dưới ánh sáng nhạt,
mình thở dài
và thắp sáng cho nhau

có lần chúng ta thở
dưới biển khơi sâu thẳm
thở thật chậm
nhưng chân mình vẫn mắc trong nước cạn
không thể biến thành những cái đuôi

ta không thể bơi đi
mùa đông cũng đang thở
trong đêm, người nào mở cửa sổ
sẽ thấy đại dương
biến thành chậu nước

chuyến diễu hành vương giả
đi từ cây cầu
ngã xuống băng
hôn những bông tuyết lạnh
và bíu lấy bờ tường

một bờ tường rất ấm
bờ tường hoang phế, ngùn ngụt, rợp nắng
thật khó tin
đó chính là em

thật khó tin
nàng là em
đã từ nhiều năm trước
trên những tảng đá sáng màu
nàng là em
nàng đứng rất thấp
bầu trời chiếu trên mặt nàng
và những giọt mưa nhiều màu sắc
nhỏ xuống từng giọt
cây đàn ống đập lên bờ biển vắng
và anh cầu nguyện.

Thơ Cố Thành (dịch từ Against the Current, trong tập Nameless Flowers, Selected Poems of Gu Cheng, translated by Aaron Crippen)

Miền đất trong trẻo


mùa thu
có một đất nước màu xanh
che phủ đường đi là những com chim xanh lấp lánh
và những chiếc lá
những tờ tiền héo úa
phấp phới bay trên trời
con đường trước mặt sáng tươi
mặt trời hạ vành mũ xuống
con đường biến mất
đôi khi em nghe thấy tiếng rung
của những bông tuyết

ở nơi đấy, tấm biển xe của anh
tỏa sáng.

Thơ Cố Thành (dịch từ The Pure Land, trong tập Nameless Flowers, Selected Poems of Gu Cheng, translated by Aaron Crippen)

Mở rộng


Thành phố đang đào xới
trên đất ngoại ô nhớp nháp
nó cần như vậy.

Những công trình xây dựng mới
những con thằn lằn trì độn
đang nhòm về phía trước
trên giàn giáo, những chiếc sừng nhọn
sáng lập lòe.

Thành phố đang nhìn về phía trước.

Con chim bay ngang mặt trăng
con chim xám bay ngang mặt trăng.
những cái cây, bị đẽo hết vỏ,
sạch trơn,
nhợt nhạt sáng như vợ chồng mới cưới.
những cái cây cũ kỹ
cỏ xẹp mình dưới ánh nắng mặt trời
những túp lều gỗ lúp xúp
mọc lên nơi đây
không niềm vui
và gắng không nghĩ ngợi
tới kiếp sau của chúng.

dưới những cánh tay thép no tròn,
như con tôm hùm khuấy lên bọt nước,
là những bông hoa cuối cùng
của mùa xuân cuối cùng:
tím rụt rè
vàng sầu muộn.

tôi đang nhớ đến nụ hôn đầu.

Thơ Cố Thành (dịch từ Expansion, trong tập Nameless Flowers, Selected Poems of Gu Cheng, translated by Aaron Crippen)

Một trong những mùa xuân

30.7.08

Picture 200 by you.

Bên ngoài cửa sổ gỗ
Của tôi những luống cày
Con trâu
Và chiếc cày

Những tia sáng mặt trời
Chiếu lấp lánh qua hàng rào gỗ mỏng
Những cánh hoa xanh biếc
Bắt đầu uốn lượn

Giọt sương sợ hãi
Làm ướt cánh đồng ký ức
Bầy chim sẻ hoảng hốt
Nhìn chân trời xa xôi

Tôi sẽ làm việc
Chọn hạt giống từ giấc mơ
Để chúng lấp lóe trên tay
Và ném chúng xuống nước.

Thơ Cố Thành (Dịch từ One of My Springs, trong tập Nameless Flowers, Selected Poems of Gu Cheng”, translated by Aaron Crippen).

Tôi thở như cỏ xanh

Tôi thở như cỏ xanh
Trên bờ sông cao ngất,
Hố nước thẳm dưới chân
Đen như lưng cá mực.

Dòng sông khe khẽ lượn
Tới những đụn cát xa
Những gợn sóng mỏng mềm
Ru mặt trời ngủ yên

Cánh rừng xanh lung linh
Đánh dấu đường của gió
Những bông hoa bé nhỏ
Tím ngắt những vành khăn

Lũ kiến chở theo cát
Chẳng muộn phiền vì yêu
Những chú ong dễ dãi
Hát vì những bông hoa.

Tôi thở như cỏ xanh
Mơ cho tới mùa xuân.
Tôi mong mình sẽ hát
Để nụ cười không tắt

(Thơ Cố Thành dịch từ I Can Breathe Like the Green Grass, trong tập Nameless Flowers, Selected Poems of Gu Cheng, translated by Aaron Crippen).

Uống rượu

23.7.08


Chàng nhìn tôi, trao cho tôi cái đẹp
và tôi lấy nó của riêng mình.
Hạnh phúc, tôi nuốt một vì sao.

Tôi để chàng tạo ra tôi
từ phản ảnh bóng tôi trong mắt chàng.
Tôi nhảy, tôi nhảy
với đôi cánh bất chợt thênh thang.

Chiếc bàn là chiếc bàn, rượu là rượu
ở trong ly, và ly là ly
nằm trên bàn,
nhưng tôi là một bóng ma,
bóng ma không thể tin được,
bóng ma tới tận cội rễ.

Tôi nói với chàng điều chàng muốn nghe
- về những con kiến
chết bởi tình yêu
dưới chùm bồ công anh.
Tôi thề rằng nếu được vẩy rượu,
bông hồng bạch sẽ cất tiếng hát.

Tôi cười, và xoay khẽ đầu
như đang thử tạo vật mới sinh.
Tôi nhảy, tôi nhảy
với làn da kinh ngạc, trong vòng ôm
đã tạo ra tôi.

Eve sinh từ xương sườn
Venus hiện hình từ bọt biển
Minerva đến từ đầu của Zeus
Họ đều có thật hơn tôi.

Khi chàng không nhìn tôi,
tôi tìm kiếm bóng hình mình trên tường.
Tất cả những gì tôi thấy
là một chiếc đinh
trên đó từng có một bức tranh.


Drinking Wine
Wislaswa Szymborska
Translated from the Polish by Joanna Trzeciak

He looked at me, bestowing beauty,
and I took it for my own.
Happy, I swallowed a star.

I let him invent me
in the image of the reflection
in his eyes. I dance, I dance
in an abundance of sudden wings.

A table is a table, wine is wine
in a wineglass, which is a wineglass
and it stands standing on a table
but I am a phantasm,
a phantasm beyond belief,
a phantasm to the core.

I tell him what he wants to hear—
about ants dying of love
under a dandelion's constellation.
I swear that sprinkled with wine
a white rose will sing.

I laugh, and tilt my head
carefully, as if I were testing
an invention. I dance, I dance
in astounded skin, in the embrace
that creates me.

Eve from a rib, Venus from sea foam,
Minerva from the head of Jove
were much more real.

When he's not looking at me,
I search for my reflection
on the wall. All I see
is a nail on which a painting hung.


Drinking Wine

Wislawa Szymborska
translated by Grazýna Drabik and Sharon Olds

He looked, and gave me beauty,
and I took it as if mine.
Happy, I swallowed a star.

I allowed myself to be
invented in the likeness
of the reflection in his eyes.
I am dancing, dancing
in the flutter of sudden wings.

A table is a table,
wine is wine in a glass
that is just a glass and stands
standing on a table. While
I am imaginary
to the point of no belief,
imaginary
to the point of blood.

I am telling him
what he wants to hear: ants
dying of love under
the constellation of the dandelion.
I swear that a white rose,
sprinkled with wine, sings.

I am laughing, tilting
my head carefully
as if checking an invention.
I am dancing, dancing
in astonished skin, in
an embrace that creates me.

Eve from a rib, Venus from sea-foam,
Minerva from Jove’s head —
all were more real than I.

When he stops looking at me
I search for my reflection
on a wall. And I see only
a nail from which a picture
has been removed.

Không che đậy

21.7.08

Chúng ta ở đây, đôi tình nhân trần truồng,
Đẹp trong mắt nhau- và thế là đủ-
Những chiếc lá trên mi mắt
Là tất cả những gì che đậy
Chúng ta nằm, giữa đêm thăm thẳm.

Nhưng chúng biết về hai ta, chúng biết,
Bốn góc tường, và lò sưởi kế bên
Bóng tối biết, chiếc bàn cũng biết
Cho dù chúng giữ lại lặng yên.

Những chiếc tách đều hiểu
Tại sao trà lại lạnh
Và ông già Swift biết
Sách ông đang để lật.

Ngay cả những con chim cũng biết:
Em thấy chúng viết trên bầu trời
Rõ ràng và lảnh lót
Cái tên em vẫn gọi anh.

Còn những cái cây? Anh hãy kể em nghe
Những lời chúng thì thào bất tận?
Ngọn gió cũng có thể biết
Nhưng vì sao gió biết vẫn là điều bí mật

Con bướm đêm ngoài rèm khiến chúng ta ngạc nhiên
Đôi cánh nó vẫy nhẹ. Anh hãy nhìn
Chặng đường bay lặng lẽ của nó
Uốn thành những đường viền bướng bỉnh

Có thể nó thấy những gì mắt chúng ta không thể nhìn
Bằng giác quan bẩm sinh loài côn trùng
Em không cảm thấy, anh cũng không thể biết
Liệu trái tim chúng mình có tỏa sáng trong đêm?


Openness

by Wislawa Szymborska
translated by Joanna Trzeciak

Here we are, naked lovers,
beautiful to each other—and that's enough.
The leaves of our eyelids our only covers,
we're lying amidst deep night.

But they know about us, they know,
the four corners, and the chairs nearby us.
Discerning shadows also know,
and even the table keeps quiet.

Our teacups know full well
why the tea is getting cold.
And old Swift can surely tell
that his book's been put on hold.

Even the birds are in the know:
I saw them writing in the sky
brazenly and openly
the very name I call you by.

The trees? Could you explain to me
their unrelenting whispering?
The wind may know, you say to me,
but how is just a mystery.

A moth surprised us through the blinds,
its wings in fuzzy flutter.
Its silent path—see how it winds
in a stubborn holding pattern.

Maybe it sees where our eyes fail
with an insect's inborn sharpness.
I never sensed, nor could you tell
that our hearts were aglow in the darkness.


Bản dịch khác của Phạm Thị Điệp Giang

Thế là chúng ta, đôi nhân tình trần truồng
đẹp với nhau – và thế là quá đủ
Những chiếc lá của hàng mi là những gì giấu che duy nhất
chúng ta đang nằm giữa đêm sâu

Nhưng chúng biết về hai ta, chúng biết
bốn góc tường này và những chiếc ghế ngay đây
Những chiếc bóng kia cũng biết
Và ngay cả chiếc bàn này cũng chẳng phơi bày

Những tách trà biết rõ hơn hết
tại sao nước trà kia ngày một lạnh
và cả già Swift cũng biết
cuốn sách ông đang lật giở ở đây

Rồi cả lũ chim kia cũng biết
Khi em nhìn chúng viết trên trời kia
Thật rõ ràng và vô cùng lảnh lót
Chính tên anh em thường gọi mỗi khi

Anh có thể nào giải thích về những hàng cây kia
về những tiếng thì thầm không nghỉ
Hãy nói em nghe, như gió kia cũng biết
Mà sao điều này vẫn còn là bí mật

Qua những tấm rèm, con bướm đêm làm ta ngạc nhiên
Đôi cánh của nó khẽ rung nhè nhẹ
Anh thấy không trong hành trình lặng lẽ
nó đã đập cánh kiên trì

Có thể nó thấy nơi mắt mình không thấy
bởi giác quan nhạy bén tự nhiên của côn trùng
em chưa từng cảm thấy và anh cũng không thể nào nói
rằng tim mình đã cháy đỏ trong đêm

Sau tình yêu

20.7.08

Anh ngắm âm nhạc bằng đôi mắt nhắm.
Nghe tiếng dương cầm như một người
đi qua khu rừng, nghĩ bằng xúc cảm.
Dàn nhạc ở trên cây, trái tim bên dưới,
từng bước một.
Đôi khi, tiếng nhạc nhanh hơn,
Nhưng rồi luôn trở lại với tĩnh lặng,
Như một người nhớ và hy vọng.
Điều đó ở trong ta, hiếm khi được để ý.
Có lẽ đó là khoái cảm trong mất mát.
Trong khao khát. Nỗi đau đi qua.
Không bao giờ trở lại.
Không bao giờ hiện hình nữa.
Không bao giờ lần nữa.
Chậm chạp. Không bụi cây. Gần ra đi.
Cái đẹp ngân nga trong tĩnh lặng.
Cái đã từng là. Từng có. Và người biết
tất cả về anh sẽ tới kết thúc.


After Love
Jak Gilbert

He is watching the music with his eyes closed.
Hearing the piano like a man moving
through the woods thinking by feeling.
The orchestra up in the trees, the heart below,
step by step. The music hurrying sometimes,
but always returning to quiet, like the man
remembering and hoping. It is a thing in us,
mostly unnoticed. There is somehow a pleasure
in the loss. In the yearning. The pain
going this way and that. Never again.
Never bodied again. Again the never.
Slowly. No undergrowth. Almost leaving.
A humming beauty in the silence.
The having been. Having had. And the man
knowing all of him will come to the end.

Tỏ tình với quên lãng

Thật khó biết thứ âm nhạc thô ráp nào
Có thể đưa quên lãng của ta trở về mặt đất
Nơi những phu đào mộ lôi nó ra từ nhiều năm trước.

Khoảnh khắc đầu tiên trong ngày chúng ta có thể lãng quên
Ngay cả khi ta thức, thế kỷ có thể trôi đi
Trong một nhịp đập của trái tim.

Ta đánh mất cuộc đời bằng lãng quên
Giống như mảnh đất bám vào rìa lưỡi cày
Và những quả trứng con gà mái bỏ rơi trong rừng.

Ta nhận một nghìn quà tặng thuở lọt lòng
Ta đánh mất hàng trăm thứ trong sự lãng quên tại khoảnh khắc sinh,
Và đánh mất thiên đường xưa ngày đầu tiên đi học.

Lãng quên giống như bông tuyết trĩu nặng cành linh sam;
Sau nhà mình, bạn sẽ thấy
Một cánh rừng trải dài hàng trăm dặm.

Robert, bạn may mắn khi nhớ những câu thơ của Rilke
Nhưng mục đích của lãng quên
Là nhớ tới lần cuối cùng chúng ta rời xa thế giới.


Courting Forgetfulness
Robert Bly

It’s hard to know what sort of rough music
Could send our forgetfulness back into the ground,
From which the gravediggers pulled it years ago.

The first moment of the day we court forgetfulness.
Even when we are fully awake, a century can
Go by in the space of a single heartbeat.

The life we lose through forgetfulness resembles
The earth that sticks to the sides of plowshares
And the eggs the hen has abandoned in the woods.

A thousand gifts were given to us in the womb.
We lost hundreds during the forgetfulness of birth,
And we lost the old heaven on the first day of school.

Forgetfulness resembles the snow that weighs down
The fir boughs; behind our house you’ll find
A forest going on for hundreds of miles.

Robert, it’s to your credit that you remember
So many lines of Rilke, but the purpose of forgetfulness
Is to remember the last time we left this world.

Cờ sao vạch

10.7.08

Quốc ca Mỹ có tên là “Lá cờ sao vạch” (The Star-Spangled Banner).

Tác giả bài thơ được phổ nhạc này là Francis Scott Key, một nhà thơ nghiệp dư. Key sáng tác bài này năm 1814, trong khi nước Mỹ đang có chiến tranh với Anh, thường gọi là Chiến tranh 1812 (dù thực tế là chiến tranh kéo dài từ 1812 tới 1815). Cuộc Chiến tranh 1812 nói chung ít được người Mỹ nhắc tới do trong cuộc chiến này, vào năm 1814 người Anh đã lần tiến vào Washington D.C. và đốt cháy Nhà Trắng và Nhà Quốc hội Mỹ để trả thù việc người Mỹ năm trước đó chiếm và đốt thành York (nay là Toronto) của Canada gồm có cả nhà Quốc hội Canada. Tuy lịch sử gọi sự kiện này là Đốt cháy Washington (Burning of Washington) nhưng thực tế thì người Anh chỉ đốt một số tòa nhà công cộng chứ không đốt nhà dân (khác với tướng Sherman đốt Georgia trong Nội chiến Mỹ sau này)

Francis Scott Key sáng tác bài thơ này vào khoảng nửa tháng sau khi Washington D.C. bị đốt, khi đang ở trên một chiến hạm của Anh trong sứ mệnh đàm phán trao đổi tù binh và chứng kiến việc người Anh tấn công Baltimore. Trận đánh pháo đài McHenry ở Baltimore diễn ra trong đêm và Francis Key thấy lá cờ trên pháo đài đang bay khi trận đánh bắt đầu nhưng ông vẫn không rõ nó còn tiếp tục bay nữa không khi trận đánh diễn ra dữ dội, khói lửa mù mịt (khổ đầu bài thơ). Đến mờ sáng hôm sau thì ông biết người Anh thất bại khi nhìn thấy trên nóc pháo đài một lá cờ lớn (kích cỡ 9*12 mét) tung bay thay cho lá cờ nhỏ trong đêm (khổ 2). Cảm kích trước cảnh tượng này, ông sáng tác bài thơ “Cờ sao vạch”. Bài thơ sau đó được phổ nhạc trên nền giai điệu từ một bài hát phổ biến trong thời gian này ở Anh có tên là Anacreontic Song do một nhạc sĩ Anh tên là John Stafford Smith sáng tác. Bài hát gốc vốn là một bài hát thuộc thể loại thường được dùng trong lúc uống rượu, gọi là drinking son. Bài hát với lời của Francis Scott Key sau đấy nhanh chóng được phổ biến rồi được chọn là quốc ca Mỹ.

Trong thế kỷ 20, khổ 3 của bài hát nói về tội ác của đế quốc Anh và lòng căm thù của nhân dân Mỹ thường không được hát do lúc này Anh đã trở thành đồng minh thân cận của Mỹ.


Cờ sao vạch

Hãy nói bạn có thấy nó trong ánh sớm bình minh
Chúng ta kiêu hãnh chào trong ánh rạng hoàng hôn
Những vạch rộng và những vì sao rạng rỡ
Xuyên qua trận đánh sinh tử
Trên những thành lũy, chúng ta ngắm
Lá cờ hiên ngang tung bay.
Giữa ánh lửa của tên đạn, giữa tiếng bom ầm vang
Chúng ta vẫn thấy lá cờ ở đấy.
Hãy nói phải chăng cờ sao vạch vẫn đang bay
Trên mảnh đất người tự do, quê hương người dũng cảm?

Trên bờ biển, xuyên qua sương khói đậm sâu
Nơi kẻ thù kiêu căng yên nghỉ trong im lặng
Và kìa cái gì đang được ngọn gió thổi tung,
Trên những triền dốc đứng, nửa che và nửa hở?
Để rồi bắt kịp tia sáng đầu của bình minh
Rạng rỡ tung bay trong vinh quang chói lọi:
‘Đó là cờ sao vạch! Mong sao cờ luôn bay
Trên mảnh đất người tự do, quê hương người dũng cảm!

Ở đâu rồi đám cướp từng huyênh hoang thề thốt
Rằng sau những điêu tàn của chiến tranh
Sẽ chẳng còn lại gì cho ta trên quê hương, Tổ quốc!
Máu của chúng rửa vết nhơ đọng trên những dấu chân
Bầy nô lệ và lũ đánh thuê, chúng làm sao chạy thoát
Khỏi nỗi khiếp sợ trong trốn chạy, cõi âm u của nấm mồ:
Và lá cờ sao vạch sẽ tung bay trong vinh quang
Trên mảnh đất người tự do, quê hương người dũng cảm!

Khi chiến tranh kết thúc, những người tự do sẽ đứng
Giữa quê hương yêu dấu và đổ nát của chiến tranh
Với chiến thắng và hòa bình, Thượng đế cứu vớt đất nước
Hãy ngợi ca Đấng Quyền năng đã tạo và gìn giữ cho ta tổ quốc.
Chúng ta sẽ chiến thắng, khi có lẽ chính đáng,
Châm ngôn của chúng ta: ‘Niềm tin đặt nơi Thượng đế.’
Và lá cờ sao vạch sẽ tung bay trong vinh quang
Trên mảnh đất người tự do, quê hương người dũng cảm

The Star-Spangled Banner

O! say can you see by the dawn's early light
What so proudly we hailed at the twilight's last gleaming.
Whose broad stripes and bright stars through the perilous fight,
O'er the ramparts we watched were so gallantly streaming.
And the rockets' red glare, the bombs bursting in air,
Gave proof through the night that our flag was still there.
Oh, say does that star-spangled banner yet wave
O'er the land of the free and the home of the brave?

On the shore, dimly seen through the mists of the deep,
Where the foe's haughty host in dread silence reposes,
What is that which the breeze, o'er the towering steep,
As it fitfully blows, half conceals, half discloses?
Now it catches the gleam of the morning's first beam,
In full glory reflected now shines in the stream:
'Tis the star-spangled banner! Oh long may it wave
O'er the land of the free and the home of the brave!

And where is that band who so vauntingly swore
That the havoc of war and the battle's confusion,
A home and a country should leave us no more!
Their blood has washed out their foul footsteps' pollution.
No refuge could save the hireling and slave
From the terror of flight, or the gloom of the grave:
And the star-spangled banner in triumph doth wave
O'er the land of the free and the home of the brave!

O! thus be it ever, when freemen shall stand
Between their loved home and the war's desolation!
Blest with victory and peace, may the heav'n rescued land
Praise the Power that hath made and preserved us a nation.
Then conquer we must, when our cause it is just,
And this be our motto: 'In God is our trust.'
And the star-spangled banner in triumph shall wave
O'er the land of the free and the home of the brave!

Nếu anh có thể nói với em

6.7.08

Thời gian sẽ không nói gì nhưng anh đã nhắc em
Thời gian chỉ biết cái giá chúng ta phải trả
Nếu anh có thể nói với em, anh sẽ cho em biết.

Chúng ta có khóc khi các anh hề diễn trò vui,
Chúng ta có vấp khi các nhạc công chơi nhạc,
Thời gian sẽ không nói gì nhưng anh đã nhắc em

Không có tương lai nào được báo trước,
Dù anh yêu em nhiều hơn những gì anh nói
Nếu anh có thể nói với em, anh sẽ cho em biết.

Những ngọn gió đến từ đâu khi chúng thổi
Lý do nào khiến những chiếc lá úa tàn
Thời gian sẽ không nói gì nhưng anh đã nhắc em

Có thể những bông hồng thực sự muốn lớn lên,
Và ánh nhìn thực lòng mong ở lại
Nếu anh có thể nói với em, anh sẽ cho em biết.

Nếu tất cả lũ sư tử đều đứng dậy và ra đi
Nếu những dòng suối và những người lính đều bỏ đi xa
Thời gian nói điều gì anh chưa nói em nghe?
Nếu anh có thể nói với em, anh sẽ cho em biết

If I could tell you

Time will say nothing but I told you so,
Time only knows the price we have to pay;
If I could tell you I would let you know.

If we should weep when clowns put on their show,
If we should stumble when musicians play,
Time will say nothing but I told you so.

There are no fortunes to be told, although,
Because I love you more than I can say,
If I could tell you I would let you know.

The winds must come from somewhere when they blow,
There must be reasons why the leaves decay;
Time will say nothing but I told you so.

Perhaps the roses really want to grow,
The vision seriously intends to stay;
If I could tell you I would let you know.

Suppose all the lions get up and go,
And all the brooks and soldiers run away;
Will Time say nothing but I told you so?
If I could tell you I would let you know.

Đôi tay em

19.6.08

Khi đôi tay em bay đến tay anh
em yêu, chúng mang lại gì cho anh trong giây lát?
Sao chúng dừng lại
ở đôi môi anh, bất chợt,
sao anh biết chúng,
như đã có lần,
anh chạm vào chúng,
như thể, trước khi tồn tại,
chúng đã đến
chạm vào trán anh, hông anh?

Mềm mại đôi tay em
bay qua thời gian,
trên biển và trên khói,
bay trên Mùa Xuân,
Và khi em đặt
tay em trên ngực anh
anh biết tới đôi cánh
chim bồ câu vàng óng,
anh biết tới đất sét,
và màu của lúa mạch.

Những năm tháng đời anh
trôi qua trong tìm kiếm,
anh leo những bậc thang,
vượt những mỏm đá,
những đoàn tàu xô anh về phía trước
những miền nước vẫy gọi anh
trên bề mặt những quả nho
dường như anh chạm vào em.
Và như thể đột nhiên,
rừng cây chạm vào em,
cây hạnh nhân nhắc đến
sự mềm mại thầm kín của em,
cho tới khi đôi tay em
khép lại trên ngực anh,
như đôi cánh
kết thúc chuyến bay của mình



Your hands

From: ‘Versos del capitán’

When your hands leap
towards mine, love,
what do they bring me in flight?
Why did they stop
at my lips, so suddenly,
why do I know them,
as if once before,
I have touched them,
as if, before being,
they travelled
my forehead, my waist?

Their smoothness came
winging through time,
over the sea and the smoke,
over the Spring,
and when you laid
your hands on my chest
I knew those wings
of the gold doves,
I knew that clay,
and that colour of grain.

The years of my life
have been roadways of searching,
a climbing of stairs,
a crossing of reefs.
Trains hurled me onwards
waters recalled me,
on the surface of grapes
it seemed that I touched you.
Wood, of a sudden,
made contact with you,
the almond-tree summoned
your hidden smoothness,
until both your hands
closed on my chest,
like a pair of wings
ending their flight.

Sonnet LXXIX


Hãy buộc tim em vào tim anh trong đêm,
hai chúng ta sẽ đánh bại bóng tối
như đôi trống vang lên trong rừng rậm
xuyên qua những tường lá ẩm ướt

Đêm băng qua: giấc mơ đen mực
cắt đứt sợi dây của những vòng sáng trên mặt đất
với sự chính xác của đoàn tàu lao nhanh,
không ngừng giật theo những viên đá lạnh và bóng tối

Em yêu của anh, hãy dịu dàng buộc chặt anh
vào cuộc sống đang đập trên ngực em
bằng đôi cánh của thiên nga chìm dưới nước,

Và rồi giấc mơ của đôi ta
sẽ trả lời câu hỏi của những vì sao
bằng một chiếc chìa khóa, một cánh cửa
đóng lại trước bóng tối.


Sonnet LXXIX

From: ‘Cien sonetos de amor’

Tie your heart at night to mine, love,

and both will defeat the darkness
like twin drums beating in the forest
against the heavy wall of wet leaves.

Night crossing: black coal of dream
that cuts the thread of earthly orbs
with the punctuality of a headlong train
that pulls cold stone and shadow endlessly.

Love, because of it, tie me to a purer movement,
to the grip on life that beats in your breast,
with the wings of a submerged swan,

So that our dream might reply
to the sky’s questioning stars
with one key, one door closed to shadow.

Tôi lắng nghe Istanbul

6.6.08

Orhan Veli Kanık (1914-1950) nhà thơ Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại, chủ soái phong trào thơ hiện đại của Thổ Nhĩ Kỳ với cái tên Phong trào Garip. Ông mất năm 36 tuổi vì xuất huyết não sau khi ngã xuống một cái hố trên đường trong khi say rượu.

Tôi lắng nghe Istanbul


Tôi lắng nghe Istanbul, chăm chú, mắt tôi nhắm ;
Đầu tiên có một làn gió nhẹ
Và những chiếc lá trên cây
Khe khẽ rung lay;
Ngoài kia, chốn xa xa,
Tiếng chuông của người chở nước rung lên không nghỉ;
Tôi lắng nghe Istanbul, chăm chú, mắt tôi nhắm

Tôi lắng nghe Istanbul, chăm chú, mắt tôi nhắm;
Và bất chợt, những con chim bay
Những đàn chim, ở trên cao, kêu la
Trong lúc những chiếc lưới được quăng trên bãi cá
Và đôi chân người đàn bà vỗ trên mặt nước
Tôi lắng nghe Istanbul, chăm chú, mắt tôi nhắm.

Tôi lắng nghe Istanbul, chăm chú, mắt tôi nhắm
Cung Bazaar lặng lẽ thanh bình
Tiếng ồn ào ở giữa khu chợ
Sàn nhà nguyện đầy ắp những chú bồ câu,
Và tiếng búa rền vang trên bến cảng
Làn gió xuân đưa mùi mồ hôi đến;
Tôi lắng nghe Istanbul, chăm chú, mắt tôi nhắm;

Tôi lắng nghe Istanbul, chăm chú, mắt tôi nhắm;
Tôi vẫn choáng váng sau trận rượu vừa qua
Tòa nhà ven biển với nhà thuyền tối đen ngủ yên
Trong tiếng ồn ào, trễ nải của gió phương nam
Tôi lắng nghe Istanbul, chăm chú, mắt tôi nhắm;

Tôi lắng nghe Istanbul, chăm chú, mắt tôi nhắm;
Cô gái xinh xắn bước trên vỉa hè
Câu chửi rủa, bài hát, những lời xấc xược;
Có gì đó từ tay cô rơi xuống đất.
Tôi đoán đấy là bông hồng.

Tôi lắng nghe Istanbul, chăm chú, mắt tôi nhắm;
Một con chim vỗ cánh bay quanh chiếc váy của em;
Tôi biết đôi mày em lấm tấm mồ hôi
Và đôi môi em dịu ướt.
Mặt trăng bạc vươn trên những cây thông;
Tôi có thể cảm thấy tất cả trong nhịp đập trái tim em.
Tôi lắng nghe Istanbul, chăm chú, mắt tôi nhắm.


I AM LISTENING TO ISTANBUL


I am listening to Istanbul, intent, my eyes closed;
At first there blows a gentle breeze
And the leaves on the trees
Softly flutter or sway;
Out there, far away,
The bells of water carriers incessantly ring;
I am listening to Istanbul, intent, my eyes closed.

I am listening to Istanbul, intent, my eyes closed;
Then suddenly birds fly by,
Flocks of birds, high up, in a hue and cry
While nets are drawn in the fishing grounds
And a woman's feet begin to dabble in the water.
I am listening to Istanbul, intent, my eyes closed.

I am listening to Istanbul, intent, my eyes closed.
The Grand Bazaar is serene and cool,
A hubbub at the hub of the market,
Mosque yards are brimful of pigeons,
At the docks while hammers bang and clang
Spring winds bear the smell of sweat;
I am listening to Istanbul, intent, my eyes closed.

I am listening to Istanbul, intent, my eyes closed;
Still giddy since bygone bacchanals,
A seaside mansion with dingy boathouses is fast asleep,
Amid the din and drone of southern winds, reposed,
I am listening to Istanbul, intent, my eyes closed.

I am listening to Istanbul, intent, my eyes closed.
Now a dainty girl walks by on the sidewalk:
Cusswords, tunes and songs, malapert remarks;
Something falls on the ground out of her hand,
It's a rose I guess.
I am listening to Istanbul, intent, my eyes closed.

I am listening to Istanbul, intent, my eyes closed;
A bird flutters round your skirt;
I know your brow is moist with sweat
And your lips are wet.
A silver moon rises beyond the pine trees:
I can sense it all in your heart's throbbing.
I am listening to Istanbul, intent, my eyes closed.

Bài hát cái đuôi


Chúng ta không thể đi cùng nhau, con đường ta khác biệt
Anh là mèo của đồ tể, tôi mèo đường phố
Thức ăn của anh ở trong chậu thiếc
Của tôi trong miệng sư tử
Anh mơ mộng tình yêu, tôi mơ tới khúc xương.

Nhưng cuộc sống anh cũng chẳng dễ gì
Khi mỗi ngày qua, anh phải liếm bàn tay ông chủ



TAIL SONG

We can't come together, our ways are different
You're a butcher's cat, I'm an alley cat
Your food comes in a tin bowl
Mine is in the lion's mouth
You dream of love, I of a bone

But your way isn't easy either, brother
It's no easy job
To lick the man's hand every damn day


Tự do


Chúng ta sống tự do
Không khí tự do cho bạn, và cả những đám mây
Các thung lũng và đồi núi đều tự do của bạn
Mưa và bùn tự do
Những thứ bên ngoài xe hơi
Lối vào rạp chiếu bóng
Và cửa sổ quầy hàng
Đều tự do cho bạn
Bánh mỳ và phó mát đều mất tiền
Nhưng nước bẩn thì tự do sử dụng
Tự do có thể khiến đầu anh rơi mất
Nhưng nhà tù thì anh cứ tự do đến
Chúng ta sống tự do


FREE

We live free
Air is free, clouds are free
Valleys and hills are free
Rain and mud are free
The outside of cars
The entrances of cinemas
And the shop windows are free
Bread and cheese cost money
But stale water is free
Freedom can cost your head
But prison is free
We live free

Một bài tình ca

1.6.08

Anh sẽ nói với em điều gì
Khi chúng ta gặp lại?
Nhưng-
Anh nằm đây và nghĩ tới em

Vết nhơ của tình yêu
Nằm bên trên thế giới.
Sắc vàng, vàng, vàng
Ăn trên những lá cây
Lốm đốm màu nghệ
Những cành cây sắc nhọn
Nặng nề
Gối mình
Trên bầu trời đỏ tía dịu mềm

Không còn ánh sáng
Chỉ vết nhơ mật ong đặc sánh
Rớt trên những chiếc lá
Trên những thân cành
Làm hỏng sắc màu
Của cả thế giới.

Anh chỉ có một mình
Gánh nặng tình yêu
Khiến anh nổi bập bềnh
Tới khi đầu anh
Chạm phải bầu trời.

Hãy nhìn anh!
Tóc anh chảy xuống cùng với mật hoa
Những con chim sáo mang nó
Trên đôi cánh đen.

Hãy nhìn, rốt cục
Đôi cánh tay, bàn tay anh
Đang nằm yên.

Làm sao anh có thể nói
Nếu anh sẽ còn yêu em lần nữa
Như lúc này đây?


A Love Song

What have I to say to you
When we shall meet?
Yet—
I lie here thinking of you.
The stain of love
Is upon the world.
Yellow, yellow, yellow,
It eats into the leaves,
Smears with saffron
The horned branches that lean
Heavily
Against a smooth purple sky.
There is no light—
Only a honey-thick stain
That drips from leaf to leaf
And limb to limb
Spoiling the colours
Of the whole world.
I am alone.
The weight of love
Has buoyed me up
Till my head
Knocks against the sky.

See me!
My hair is dripping with nectar—
Starlings carry it
On their black wings.
See, at last
My arms and my hands
Are lying idle.
How can I tell
If I shall ever love you again
As I do now?

Tình ca

Quét nhà sạch
Treo rèm mới
Trên cửa sổ
Mặc áo mới
Và đến với anh!

Cây đu đang rắc
Những chiếc lá nhỏ
Thơm tho
Từ bầu trời trắng!

Kẻ nào sẽ nghe thấy chúng ta
Trong những khoảnh khắc tới?
Hãy đế hắn nói
Có mùi thơm nở bừng
Trên những cành cây đen.


Love Song

Sweep the house clean,
hang fresh curtains
in the windows
put on a new dress
and come with me!
The elm is scattering
its little leaves
of sweet smells
from a white sky!

Who shall hear of us
in the time to come?
Let him say there was
a burst of fragrance
from black branches.

Chỉ là để nói

Tôi đã ăn
Những quả mận
Để ở trong
Khay đá

Thứ mà
Có lẽ em
Để dành
Cho bữa sáng

Tha thứ cho tôi
Chúng thật ngon
Rất ngọt
Và rất lạnh

This Is Just To Say

I have eaten
the plums
that were in
the icebox
and which
you were probably
saving
for breakfast
Forgive me
they were delicious
so sweet
and so cold

Xe cút kít đỏ

nhiều thứ phụ thuộc
vào

xe cút kít
màu đỏ

lấp lánh nước
mưa

cạnh những con gà
màu trắng.



The Red Wheelbarrow

so much depends
upon

a red wheel
barrow

glazed with rain
water

beside the white
chickens.

Hành động

Có những bông hồng, trong mưa
Đừng cắt chúng, tôi cầu xin
Chúng sẽ không sống lâu, nàng nói.
Nhưng chúng thật đẹp
ở nơi chúng ở.
Chúng ta cũng từng đẹp, nàng nói,
Và cắt chúng, rồi trao chúng cho tôi
Trong tay tôi.


The Act

There were the roses, in the rain.
Don't cut them, I pleaded.
They won't last, she said.
But they're so beautiful
where they are.
Agh, we were all beautiful once, she said,
and cut them and gave them to me
in my hand.

 
Vũ Hoàng Linh - by Templates para novo blogger